top of page
Tìm kiếm

BỆNH LOÃNG XƯƠNG CÓ CHỮA ĐƯỢC KHÔNG?

  • Ảnh của tác giả: Sài Gòn Đông y
    Sài Gòn Đông y
  • 9 thg 8, 2022
  • 7 phút đọc

Mỗi năm trên thế giới có 200 triệu người mắc bệnh loãng xương. Tại Việt Nam, loãng xương ảnh hưởng đến 1/3 phụ nữ và 1/8 đàn ông trên 50 tuổi. Các hậu quả của loãng xương gây ra như gãy xương, nứt xương, lún đốt sống... thường rất nặng nề, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống người bệnh.

Điều nguy hiểm là loãng xương diễn biến rất âm thầm và người bệnh chỉ biết mình bệnh khi đã gặp các biến chứng.

Loãng xương là gì?

Loãng xương là tình trạng rối loạn chuyển hóa của bộ xương, đặc trưng bởi sự giảm mật độ xương và chất lượng xương, xương bị giảm sức mạnh, trở nên yếu, giòn, chỉ cần ngã hoặc một va chạm nhẹ cũng có thể dẫn tới gãy xương. Loãng xương được chia làm hai loại là loãng xương nguyên phát và loãng xương thứ phát.

- Loãng xương nguyên phát: do quá trình lão hóa của tạo cốt bào gây nên sự mất cân bằng giữa hủy xương và tạo xương. Loãng xương nguyên phát gồm loãng xương tuổi già và loãng xương sau mãn kinh.

- Loãng xương thứ phát: là loại loãng xương liên quan đến một số bệnh mạn tính như bệnh đái tháo đường, bệnh cường giáp, bệnh to đầu chi, bệnh gan mạn tính, thiếu dinh dưỡng, cắt dạ dày, viêm khớp dạng thấp, bệnh lý cột sống, các bệnh di truyền như bệnh nhiễm sắc tố sắc... hoặc do sử dụng lâu ngày một số thuốc như corticoid, thuốc lợi tiểu, heparin,.

Triệu chứng của loãng xương

Loãng xương không có triệu chứng rõ ràng, thường chỉ tới khi có triệu chứng thì loãng xương đã ở mức độ nặng. Khoảng 60% trường hợp xẹp đốt sống do loãng xương không có biểu hiện lâm sàng. Các triệu chứng phổ biến của loãng xương là: Đau lưng, giảm chiều cao, gù vẹo cột sống (còng lưng), gãy xương sau một chấn thương rất nhẹ.

Chẩn đoán loãng xương bằng kỹ thuật đo mật độ xương.

Yếu tố nguy cơ gây loãng xương

- Nguy cơ loãng xương tăng ở người cao tuổi, người nhẹ cân, người có lối sống tĩnh tại, ít hoạt động thể lực, nghiện rượu, café, thuốc lá, ăn chế độ ăn thiếu canxi và vitamin D.

- Những người thiếu hormone sinh dục do cắt bỏ buồng trứng, mãn kinh sớm, mắc một số bệnh nội tiết.

- Những người có tiền sử gãy xương (bản thân hoặc gia đình).

- Bệnh còn tăng ở những người phải dùng một số thuốc kéo dài như Corticoid, thuốc chống động kinh...

Cách điều trị bệnh loãng xương hiệu quả

Tùy vào mức độ loãng xương, tình trạng sức khỏe của bệnh nhân mà phương pháp điều trị sẽ khác nhau. Các cách điều trị loãng xương có thể được áp dụng riêng lẻ hoặc kết hợp với nhau. Chúng được chia thành ba nhóm như sau:

Điều trị không dùng thuốc

Trong suốt cuộc đời của mỗi người, xương khỏe mạnh liên tục bị phá vỡ và xây dựng lại. Khi cơ thể già đi, đặc biệt là sau khi mãn kinh, xương sẽ tăng nguy cơ mất chất khoáng nhanh hơn. Tình trạng này xảy ra là do xương không khôi phục lại kịp với tốc độ hủy xương và trở nên suy yếu hơn. Lúc này, một chế độ sinh hoạt hợp lý, dinh dưỡng lành mạnh và tập luyện đầy đủ, có thể giúp giảm nguy cơ phát triển loãng xương hoặc gãy xương.

Chế độ dinh dưỡng

Cần bổ sung đầy đủ canxi và vitamin D để tạo ra nguyên liệu tái tạo xương, tăng cường sự bền chắc cho xương. Những khoáng chất này có trong sữa và các chế phẩm từ sữa, rau lá xanh, hạt óc chó, cá hồi, hải sản…

Tránh những thực phẩm có hại như: Thức uống có ga, cà phê, rượu bia và các chất kích thích khác; hạn chế thức ăn nhanh, chế biến sẵn, thực phẩm đóng hộp…

Sinh hoạt, vận động

  • Sử dụng các dụng cụ hỗ trợ xương khớp, nẹp chỉnh hình… để giảm sự tỳ đè lên cột sống, đầu xương, .xương vùng hông.

  • Tập thể dục ngoài trời vào buổi sáng không chỉ là một biện pháp hấp thu vitamin D hiệu quả mà còn tăng cường sự chắc khỏe của xương, dẻo dai của cơ bắp

  • Tập luyện với cường độ vừa phải, tùy theo lứa tuổi và mức độ loãng xương.

  • Các bài tập được đề nghị như: đi bộ, chạy bộ, tập dưỡng sinh, khiêu vũ…

Thuốc trị loãng xương

Đa số các loại thuốc điều trị loãng xương hoạt động bằng cách ức chế quá trình hủy xương. Một số thuốc khác lại kích thích quá trình tạo xương. Những cơ chế này giúp xương chắc khỏe và giảm nguy cơ gãy xương.

Bisphosphonates

Là lựa chọn đầu tiên trong điều trị loãng xương. Bisphosphonates bao gồm alendronate, risedronate, ibandronate, axit zoledronic… Nhóm thuốc này có tác dụng chống hủy xương. Tuy nhiên, bisphosphonates đường uống có thể mang đến một số tác dụng phụ như buồn nôn, đau bụng, ợ chua. Đối với các dạng bisphosphonat tiêm tĩnh mạch như axit zoledronic, có thể gây sốt, đau đầu và đau cơ.

Một vài biến chứng rất hiếm gặp của bisphosphonates là gãy thân xương đùi không điển hình, hoại tử xương hàm (xảy ra khi người bệnh nhổ răng hoặc thực hiện một thủ tục xâm lấn khác liên quan đến răng). Những biến chứng này thường xuất hiện khi thời gian dùng thuốc càng lâu. Người bệnh có thể ngừng các thuốc loãng xương đường uống sau 5 năm nhưng những lợi ích mà thuốc mang lại vẫn tiếp tục tồn tại.

Bisphosphonates chống chỉ định với phụ nữ có thai và đang cho con bú, bệnh nhân suy thận nặng.

Một số loại thuốc thường được chỉ định trong điều trị, bao gồm:

Denosumab

Là phương pháp điều trị dành cho những người không thể sử dụng bisphosphonate. Loại thuốc này thường được sử dụng dưới dạng tiêm, 6 tháng/lần. Nếu ngưng thuốc mà không có sự hướng dẫn của bác sĩ, sẽ làm tăng nguy cơ gãy xương, kể cả xương cột sống. Do đó khi ngưng denosumab, người bệnh nên được sử dụng thuốc nhóm bisphosphonate. Ngoài ra, tương tự bisphosphonate, denosumab cũng có thể phát sinh những biến chứng hiếm gặp như gãy thân xương đùi không điển hình và hoại tử xương hàm khi dùng kéo dài.

Strontium ranelate

Có tác dụng tăng tạo xương, ức chế hủy xương, tuy nhiên, nhóm thuốc này vẫn chưa được áp dụng rộng rãi vì những tác dụng phụ mà nó gây ra trên hệ tim mạch. Thuốc có thể được sử dụng cho những bệnh nhân chống chỉ định hoặc không dung nạp nhóm bisphosphonates.

Deca – Durabolin và durabolin

Thuốc làm tăng quá trình đồng hóa, có thể được cân nhắc sử dụng phối hợp với các loại thuốc trên

Các thuốc tăng tạo xương

Teriparatide, abaloparatide, romosozumab. Thuốc thường được chỉ định trong trường hợp loãng xương nghiêm trọng và nguy cơ gãy xương cao và rất cao, không đáp ứng đủ hiệu quả điều trị khi dùng các loại thuốc khác. Những loại thuốc này thường được dùng dưới dạng tiêm và nhanh chóng hết tác dụng sau khi ngừng thuốc. Do đó, sau khi dừng nhóm thuốc này, người bệnh sẽ được chỉ định dùng các thuốc khác để duy trì sự phát triển của xương mới.

Liệu pháp hormone

Liệu pháp hormone hay còn gọi là liệu pháp thay thế estrogen (ERT) thường được khuyên dùng cho phụ nữ có nguy cơ cao mắc bệnh loãng xương, để ngăn ngừa mất xương và giảm nguy cơ gãy xương. Nội tiết tố estrogen cũng giúp ngăn ngừa bệnh tim, cải thiện chức năng nhận thức và tiết niệu.

Tuy nhiên, liệu pháp estrogen có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú và ung thư nội mạc tử cung, tăng nguy cơ xuất hiện huyết khối dẫn đến đột quỵ. Do đó, cần cân nhắc giữa lợi ích và tác hại mà liệu pháp này mang lại. Trước khi tiến hành điều trị bằng liệu pháp hormone, người bệnh nên được đo mật độ xương.

Những phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh loãng xương (đặc biệt là phụ nữ sau mãn kinh) sẽ được chỉ định dùng raloxifene. Đây là một chất điều hoà chọn lọc thụ thể estrogen, có tác dụng mang lại những lợi ích cho việc gia tăng mật độ xương giống như estrogen. Tác dụng phụ thường gặp của loại thuốc này là làm cơ thể nóng bừng, tăng nguy cơ huyết khối nhưng giảm nguy cơ mắc một số loại ung thư vú. Raloxifene nên được uống 60mg mỗi ngày, trong tối đa 2 năm.

Ở nam giới, loãng xương có thể liên quan đến sự suy giảm mức độ testosterone theo thời gian. Lúc này, liệu pháp hormone giúp cải thiện các triệu chứng testosterone thấp. Trong điều trị loãng xương ở nam giới, các bác sĩ thường chỉ định phối hợp liệu pháp hormone với các phương pháp điều trị khác.

Biện pháp phòng ngừa nguy cơ loãng xương

Bác sĩ Tuấn Anh cho biết, loãng xương là một bệnh lý khó điều trị nhưng có thể phòng ngừa nhờ vào thói quen sống lành mạnh như:

  • Uống nhiều nước và thực hiện chế độ dinh dưỡng đầy đủ, đảm bảo cung cấp cho cơ thể từ 1.000 – 1.500mg canxi và 800 -1000 đơn vị quốc tế (IU) vitamin D mỗi ngày.

  • Không hút thuốc lá vì nicotine trong thuốc lá làm tăng tỷ lệ mất xương và nguy cơ gãy xương.

  • Thông báo với bác sĩ các loại thuốc đang sử dụng điều trị những bệnh lý khác, đặc biệt là các thuốc làm tăng nguy cơ loãng xương như corticoid…

  • Tập thể dục thường xuyên với cường độ vừa phải giúp tăng cường sức mạnh và sự dẻo dai của hệ cơ xương khớp

  • Phòng ngừa té ngã bằng cách: Mang giày dép chống trượt, sử dụng thảm chống trượt, dùng dụng cụ hỗ trợ đi lại nếu cần thiết; lắp đặt tay vịn trong phòng tắm, dọn dẹp nhà cửa gọn gàng, sáng sủa…

  • Chú ý đến chiều cao. Việc giảm chiều cao có thể là dấu hiệu đầu tiên của biến chứng lún đốt sống

  • Đo mật độ xương định kỳ mỗi 2 năm ở phụ nữ trên 65 tuổi và nam giới trên 70 tuổi để phát hiện sớm các dấu hiệu loãng xương.

Phòng khám ứng dụng những phương pháp Y học cổ truyền như châm cứu, bấm huyệt…. kết hợp với các bài thuốc Đông y 100% thiên nhiên để hồi phục sức khỏe cho bệnh nhân - SĐT: 0931 225 777 - Website: dongy.org

 
 
 

Bình luận


Bài đăng: Blog2_Post

0931 225 777

  • Facebook
  • Twitter
  • LinkedIn

©2022 bởi Phòng khám y học cổ truyền Sài Gòn. Tự hào được xây dựng từ Wix.com

bottom of page