top of page
Tìm kiếm

BỆNH VẢY NẾN CÓ CHỮA KHỎI ĐƯỢC KHÔNG?

  • Ảnh của tác giả: Sài Gòn Đông y
    Sài Gòn Đông y
  • 1 thg 9, 2022
  • 16 phút đọc

Vảy nến là một trong những bệnh lý da liễu thường gặp nhất hiện nay. Đây là một vấn đề nhức nhối đối với nhiều người bởi đây là bệnh lý không thể trị khỏi hoàn toàn, khả năng tái phát rất cáo và khiến người bệnh luôn trong trạng thái khó chịu. Nguyên nhân gây ra bệnh vẩy nến là gì, làm thế nào để khắc phục và kiểm soát bệnh tốt nhất.



Vảy nến là gì? Nguyên nhân gây bệnh

Vảy nến tiếng Anh là bệnh Psoriasis là một hiện tượng bệnh lý mãn tính trên da có thể xuất hiện ở bất kỳ đối tượng từ người trưởng thành, người già cho đến trẻ nhỏ.

Bệnh thường tự xuất hiện và tự biến mất và tái phát lại rất nhiều lần sau đó đặc biệt là vào khoảng thời gian giao mùa. Những tế bào da khi bị viêm, tự tái tạo lại, tích tụ thành những lớp vảy trên bề mặt. Ở trẻ nhỏ, độ tuổi từ 7 – 10 tuổi thường có tỉ lệ mắc cao hơn, còn ở người trưởng thành, bệnh có thể xảy ra với bất kỳ ai.

Không có kết luận chính xác về nguyên nhân chính gây nên bệnh vảy nến trên da, tuy nhiên dựa vào những trường hợp mắc bệnh, các chuyên gia đã đưa ra một vài yếu tố làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh ở người như sau:

  • Suy yếu, rối loạn tế bào miễn dịch: Các tế bào T (Lympho T) đóng vai trò là lá chắn giúp cơ thể chống lại virus gây bệnh bên ngoài môi trường. Tuy nhiên, khi hệ miễn dịch gặp vấn đề, các tế bào T lại quay ngược tấn công các tế bào khỏe mạnh. Đây là một sự nhầm lẫn khiến cơ chế chữa lành vết thương hoạt động mạnh hơn, tế bào da tăng sinh và chết đi một cách nhanh chóng hơn so với bình thường. Điều này khiến các lớp tế bào da chồng lên nhau, tạo nên các mảng vảy, các mảng da bị tổn thương.

  • Di truyền: Bệnh vảy nến có tính di truyền, không chỉ với bố mẹ sang con mà với những người thân trong gia đình cũng có thể di truyền sang thế hệ đời sau với tỉ lệ khác nhau.

  • Tổn thương ngoài da: Những tổn thương ngoài da như trầy xước, vết tiêm,… cũng có thể là cơ hội để cá vi khuẩn tấn công và gây nên bệnh vảy nến.

  • Stress, căng thẳng: Rất nhiều bệnh nhân có cơ thể hoàn toàn khỏe mạnh và không có dấu hiệu của việc bị vi khuẩn, virus tấn công. Tuy nhiên, các chuyên gia cũng đã tìm ra nguyên nhân là do những người này đã ở trong tình trạng căng thẳng, áp lực kéo dài một thời gian nhất định.

  • Hút thuốc lá, uống rượu bia: Tuy đây không phải là nguyên nhân chính nhưng nó cũng gia tăng nguy cơ mắc bệnh cũng như khiến bệnh tái phát nhiều lần hơn.

  • Tác dụng phụ của một số loại thuốc: Một số bệnh nhân sử dụng các thuốc như thuốc hạ huyết áp, thuốc chống sốt rét, thuốc điều trị rối loạn lượng cực cũng sẽ khiến vảy nến có nguy cơ bùng phát và chuyển biến nặng hơn rất nhiều.

Có thể thấy, nguyên nhân gây bệnh vẩy nến có thể đến từ yếu tố chủ quan và khách quan. Do vậy, chúng ta không thể hoàn toàn phòng ngừa được bệnh. Hãy cố gắng nắm bắt những thông tin cần thiết nhất để biết cách khắc phục và điều trị khi cần thiết.

Triệu chứng từng thể bệnh vảy nến

Cùng với triệu chứng xuất hiện các mảng da, vảy da trên bề mặt nhưng thực chất vảy nến có khá nhiều dạng khác nhau, với những triệu chứng riêng biệt.

  • Vảy nến bệnh học có mảng bám: Đây là dạng vảy nến thường gặp nhất, chiếm đến 70 – 80% trường hợp mắc bệnh. Triệu chứng chính của dạng này là xuất hiện các mảng da nổi lên trên bề mặt với kích thước từ 2 – 20 cm. Vùng da thường bị mắc bệnh có thể kể đến như: vùng dưới lưng, đầu gối, khuỷu tay,…

  • Vảy nến kèm theo mủ: Tương tự như vảy nến có mảng bám nhưng có xuất hiện thêm các vùng bị mụn mủ. Vảy nến mụn mủ có thể khiến người bệnh bị rát hơn vì mụn mủ có thể bị vớ bất cứ lúc nào. Dạng vảy nến này thường gặp ở trên các ngón tay, bàn tay hoặc bàn chân.

  • Vảy nến hình giọt nước: Các vùng da bị vảy nến xuất hiện những vết có hình dáng giống giọt nước với kích thước 1 – 10cm. Các vết này có thể xuất hiện ở mọi vị trí trên cơ thể, ở trẻ em, dạng bệnh này thường xuất hiện sau khi bị viêm họng được chẩn đoán do Streptococcus gây nên.

  • Vảy nến da đầu: Tình trạng ban đầu khiến nhiều người lầm tưởng là gàu tóc. Tuy nhiên, sau một thời gian ngắn, các mảng da đầu có vảy, màu trắng bạc sẽ dày và kích thước rộng hơn.

  • Vảy nến ở các nếp gấp: Thường xảy ra ở những người bị béo phì, dạng bệnh này khiến các vùng da nếp gấp như nách, bẹn, mông,… bị tổn thương. Các vùng da này thường sẽ có màu đỏ, đau rát nhất là khi di chuyển, cọ xát.

  • Vảy nến móng: Không chỉ xuất hiện trên da, vảy nến còn có thể xảy ra đối với móng tay hoặc móng chân người bệnh. Dạng bệnh này có biểu hiện là tình trạng móng trở nên dày hơn bất thường và xuất hiện những lỗ nhỏ trên bề mặt móng.

  • Vảy nến toàn thân: Tuy ít gặp nhưng cũng không phải không xuất hiện. Một số trường hợp nghiêm trọng hơn bệnh vảy nến có thể xuất hiện toàn thân khiến làn da bị đỏ, ngứa, đau rát vô cùng nguy hiểm.

  • Viêm khớp vảy nến: Bệnh viêm khớp vảy nến rất phổ biến hiện nay, thường xuất hiện ở ngón tay, cổ tay, ngón chân. Những người mắc bệnh thường bị sưng khớp, sưng đầu ngón tay, các khớp xương đau nhức cản trở nhiều đến hoạt động hàng ngày.

Hầu hết những dạng trên đều có triệu chứng chung là bong tróc da, ngứa, đau rát khiến người bệnh luôn cảm thấy khó chịu, bứt rứt.

Bệnh có bị lây không? Có nguy hiểm không?

Tỷ lệ những người mắc bệnh vảy nến chiếm khoảng 5 – 7% những người có vấn đề về da liễu. Đây là một căn bệnh không bị lây nhưng có thể kéo dài dai dẳng và cực kỳ khó chữa tận gốc.

Hãy yên tâm vì bệnh không lây qua người với người khi tiếp xúc da với nhau, do đó chúng ta không cần quá lo lắng hay đề phòng khi gặp gỡ những người mắc bệnh. Tuy nhiên, bệnh có thể được liệt kê vào các bệnh có tính di truyền. Nếu có bố hoặc mẹ đã từng bị vảy nến, tỉ lệ con sinh ra mắc bệnh là khoảng 10%. Nếu cả bố và mẹ đều mắc thì tỉ lệ này có thể lên đến 40%.

50% trường hợp mắc bệnh vảy nến da cho biết họ bị làm phiền bởi cảm giác ngứa ngáy tại các vùng da bị tổn thương. Đa số họ đều phải dùng đến các loại kem bôi, thuốc bôi ngoài da để cải thiện tình trạng này.

Vảy nến tưởng chừng không nguy hiểm đến tính mạng người bệnh nhưng đây hoàn toàn không phải là một bệnh lý có thể chủ quan. Nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách, bệnh vẩy nến có thể gây nên một vài biến chứng như:

  • Biến chứng về thận: Bệnh có thể ảnh hưởng đến thận, khiến bệnh thận nặng hơn và có thể chính là nguyên nhân gây nên chứng thận hư, suy thận. Các loại thuốc điều trị bệnh vảy nến nếu không dùng theo chỉ định cũng tiềm ẩn nhiều mối nguy hại đối với chức năng thận.

  • Biến chứng huyết áp, tim mạch: Vảy nến trên da có thể làm gia tăng nguy cơ khiến người bệnh bị tăng huyết áp. Tương tự như với bệnh thận, thuốc chữa vảy nến cũng có những tác dụng phụ khiến cholesterol trong máu tăng cao, gia tăng nguy cơ đột quỵ, đau tim, xơ vữa động mạch.

  • Rối loạn chuyển hóa: Nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra mối liên hệ giữa bệnh vảy nến với các tình trạng rối loạn chuyển hóa như rối loạn chuyển hóa lipid, béo phì,…

  • Nguy cơ cao mắc đái tháo đường type 2: Người bệnh vảy nến ở cấp độ nặng sẽ rất dễ mắc tiểu đường tuýp 2.

Ngoài ra, bệnh vảy nến cũng ảnh hưởng rất lớn đến sinh hoạt và tâm lý người bệnh. Những người bị vảy nến thường luôn cảm thấy ngứa ngáy, không tập trung vào công việc, dễ cáu gắt, nổi nóng. Nếu vảy nến xuất hiện ở các vùng da như tay, mặt, ngực càng khiến người bệnh có tâm lý e ngại khi gặp gỡ hay tiếp xúc với người khác.

Phương pháp điều trị bệnh vẩy nến

Điều trị bệnh vẩy nến thường đòi hỏi một số phương pháp tiếp cận khác nhau để kiểm soát tình trạng bệnh bao gồm thay đổi lối sống, thuốc, dinh dưỡng. Các phương pháp điều trị bệnh vẩy nến nhằm mục đích ngăn chặn các tế bào da phát triển quá nhanh và loại bỏ vảy.

Các lựa chọn bao gồm liệu pháp tại chỗ (kem và thuốc mỡ), liệu pháp ánh sáng (đèn chiếu) và thuốc uống hoặc tiêm.

Điều trị bệnh vẩy nến bằng liệu pháp tại chỗ

Thuốc bôi trực tiếp lên da thường hiệu quả đối với bệnh vẩy nến nhẹ đến trung bình. Bên cạnh đó, những trường hợp nặng có thể kết hợp điều trị tại chỗ với thuốc uống hoặc liệu pháp ánh sáng như kem dưỡng ẩm, axit salicylic, carbon hoạt tính, thuốc mỡ corticosteroid, chất tương tự vitamin D, retinoids, anthralin (dritho), chất ức chế calcineurin (tacrolimus-prograf và pimecrolimus – elidel).

Thuốc corticoid tại chỗ

Thuốc corticoid có đặc tính chống viêm, chống tăng sinh và ức chế miễn dịch; thường được kê đơn để điều trị bệnh vẩy nến nhẹ đến trung bình, có hiệu quả trong việc cắt cơn ngứa.

Thuốc có sẵn dưới dạng thuốc mỡ, kem, gel, bọt, thuốc xịt và dầu gội.

Thuốc mỡ corticosteroid nhẹ (hydrocortisone) thường được khuyên dùng cho các vùng nhạy cảm (mặt hoặc các nếp gấp trên da).

Corticosteroid tại chỗ có thể dùng mỗi ngày một lần trong các đợt bùng phát. Bác sĩ có thể kê đơn thuốc mỡ hoặc kem corticosteroid mạnh hơn - triamcinolone (acetonide, trianex), clobetasol (temovate), betamethasone (0,12%) cho những vùng da nhỏ hơn, ít nhạy cảm hơn hoặc khó điều trị.

Tuy nhiên cần lưu ý các tác dụng phụ của thuốc corticoid dùng tại chỗ như: Nguy cơ gây teo da dẫn đến da mỏng, dễ bầm tím, rạn da, tăng mọc lông mịn, giảm sắc tố da, viêm da tiếp xúc dị ứng và hấp thu toàn thân dẫn đến ức chế tuyến thượng thận…

Retinoids tại chỗ (tazarotene)

Loại thuốc này có hiệu quả đối với bệnh vẩy nến nhưng không có hoạt tính chống ngứa. Thuốc có sẵn dưới dạng gel và kem, bôi một hoặc hai lần mỗi ngày. Tác dụng phụ của thuốc có thể khiến da bị khô và làm trầm trọng thêm tình trạng ngứa.

Chất tương tự vitamin D3

Đây là phương pháp điều trị bệnh vẩy nến an toàn và hiệu quả. Các chất tương tự vitamin D3 làm tăng sự biệt hóa tế bào sừng và ức chế sự tăng sinh và có hiệu quả tương tự như corticosteroid tại chỗ. Có thể được sử dụng đơn lẻ hoặc với corticosteroid tại chỗ. Calcipotriene là chất tương tự vitamin D3 được sử dụng phổ biến nhất cho bệnh vẩy nến, có sẵn dưới dạng thuốc mỡ, kem và dung dịch bôi da đầu.

Tuy nhiên, thuốc có thể gây một số tác dụng phụ, thường gặp nhất là kích ứng da và tăng nhạy cảm với ánh sáng.

Thuốc ức chế calcineurin

Các thuốc ức chế calcineurin như tacrolimus (protopic) và pimecrolimus (elidel) có tác dụng giảm viêm và tích tụ mảng bám. Thuốc đặc biệt hữu ích ở những vùng da mỏng (quanh mắt) nơi các loại kem steroid hoặc retinoid quá kích ứng hoặc có thể gây ra các tác dụng có hại.

Axit salicylic

Axit salicylic tại chỗ có sẵn ở nhiều công thức khác nhau. Thuốc không kê đơn bao gồm kem, gel, lotion, thuốc mỡ, miếng dán, thạch cao, dầu gội, xà phòng và dung dịch. Các loại dầu gội và dung dịch dành cho da đầu có chứa axit salicylic làm giảm sự phát triển của bệnh vẩy nến da đầu. Sản phẩm có chứa 6% axit salicylic đặc biệt hiệu quả khi kết hợp với corticosteroid tại chỗ. Sự kết hợp giữa axit salicylic và corticosteroid được coi là phương pháp điều trị đầu tay đối với các mảng vảy nến dày và có vảy.

Khi sử dụng cần lưu ý các tác dụng không mong muốn như có thể gây rụng tóc tạm thời. Tuy nhiên, tình trạng này sẽ trở lại bình thường sau khi ngừng điều trị. Ngoài ra, các chế phẩm chứa axit salicylic mạnh có thể gây kích ứng tại chỗ nếu tiếp xúc với da quá rộng.

Nhựa than đá

Nhựa than đá đặc biệt có lợi trong trường hợp ngứa nghiêm trọng, có tác dụng làm giảm vảy, ngứa và viêm, không cần kê đơn, có nhiều dạng khác nhau (dầu gội, kem và dầu bôi). Cơ chế hoạt động là chống tăng sinh và chống viêm trên da, đồng thời làm giảm quá trình phân bào và phát triển của tế bào biểu bì cũng như lượng chất nhờn được sản xuất bởi các tuyến chất nhờn. Các sản phẩm trên thị trường có chứa nhựa than đá như triamcinolone (0,1%).

Nhựa than đá cũng có thể gây kích ứng da, lộn xộn, mùi mạnh và làm ố da hoặc quần áo.

Anthralin

Đây là một loại kem được sử dụng để làm chậm sự phát triển của tế bào da, có thể loại bỏ vảy và giúp da mịn màng hơn, không nên sử dụng trên mặt hoặc bộ phận sinh dục. Thuốc thường dùng trong một thời gian ngắn. Anthralin có thể gây kích ứng da và làm ố các vật tiếp xúc.

Thuốc uống hoặc thuốc tiêm

Để điều trị, bác sĩ có thể kê đơn thuốc uống hoặc tiêm (toàn thân) khi bị bệnh vẩy nến từ trung bình đến nặng hoặc các phương pháp điều trị khác không hiệu quả. Do có khả năng gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng, một số loại thuốc này chỉ được sử dụng trong thời gian ngắn và có thể được xen kẽ với các phương pháp điều trị khác.

- Kháng sinh: Bác sĩ có thể kê thuốc kháng sinh trong trường hợp có nhiễm trùng. Kháng sinh không được chứng minh là có tác dụng trong điều trị bệnh vẩy nến.

- Thuốc kháng histamine: Hydroxyzine và doxepin, mirtazapine đã được sử dụng để hỗ trợ chống ngứa về đêm ở những bệnh nhân vẩy nến.

- Thuốc steroid: Với một vài mảng vảy nến nhỏ và dai dẳng, bác sĩ có thể đề nghị tiêm triamcinolone ngay vào vùng tổn thương.

- Acitretin (Soriatane): Đây là một loại retinoid uống, được sử dụng để giảm sản xuất tế bào da. Retinoids là một dạng của vitamin A. Acitretin là retinoid uống duy nhất được sử dụng để điều trị bệnh vẩy nến nặng ở người lớn.

Tuy nhiên, acitretin có thể gây tác dụng phụ nghiêm trọng. Do đó, bác sĩ có thể chỉ kê đơn thuốc này trong một thời gian ngắn. Khi bệnh vẩy nến thuyên giảm, cần ngừng dùng thuốc này cho đến khi có một đợt bùng phát khác.

Tác dụng phụ phổ biến thường là da và môi nứt nẻ, rụng tóc, khô miệng, hưng phấn, thay đổi trong tâm trạng và hành vi, trầm cảm, đau đầu, đau khớp, tổn thương gan. Một số trường hợp gặp các tác dụng phụ nghiêm trọng như: Thay đổi thị lực hoặc mất thị lực ban đêm, đau đầu dữ dội, buồn nôn, khó thở, sưng tấy, tức ngực, khó nói, vàng da…

- Methotrexate (Trexall): Được dùng cho những người bị bệnh vẩy nến nặng, những người không hiệu quả với các phương pháp điều trị khác. Thuốc có tác dụng làm chậm sự phát triển của tế bào da và ngăn vảy hình thành; thường được sử dụng hàng tuần dưới dạng một liều uống duy nhất, làm giảm sản xuất tế bào da và ngăn chặn tình trạng viêm.

Một số tác dụng phụ có thể gặp khi dùng thuốc như: Mệt mỏi, ớn lạnh, sốt, buồn nôn, đau bụng, chóng mặt, rụng tóc, đỏ mắt, đau đầu, mềm nướu, ăn mất ngon, nhiễm trùng, tổn thương gan, bệnh thận.

Bác sĩ có thể đề nghị bổ sung axit folic (vitamin B) để giúp bảo vệ khỏi một số tác dụng phụ này. Trong một số trường hợp hiếm gặp, methotrexate có thể gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng, đe dọa tính mạng: Chảy máu bất thường, vàng da, nước tiểu sẫm màu hoặc có máu trong nước tiểu, ho khan không có đờm, phản ứng dị ứng (khó thở, phát ban).

Những người dùng methotrexate lâu dài cần xét nghiệm liên tục để theo dõi công thức máu và chức năng gan.

- Cyclosporine (Gengraf, Sandimmune, Neoral ): Là một chất ức chế miễn dịch, được sử dụng để điều trị bệnh vẩy nến nặng nếu các phương pháp điều trị khác không hiệu quả. Thuốc hoạt động bằng cách làm dịu hệ thống miễn dịch, ngăn chặn hoặc ngừng phản ứng quá mức trong cơ thể gây ra các triệu chứng của bệnh vẩy nến.

Tác dụng phụ: Rất mạnh và nghiêm trọng như đau đầu, sốt, đau bụng, buồn nôn, nôn mửa, mọc tóc không mong muốn, tiêu chảy, khó thở, nhịp tim chậm hoặc nhanh, mệt mỏi quá mức, tăng huyết áp, các vấn đề về hệ thần kinh… tăng nguy cơ nhiễm trùng và các vấn đề sức khỏe khác kể cả ung thư. Những người dùng cyclosporin cần được theo dõi liên tục huyết áp và chức năng thận. Không sử dụng liên tục trong hơn một năm.

- Liệu pháp sinh học: Liệu pháp sinh học đường tiêm giúp thay đổi hệ thống miễn dịch theo cách phá vỡ chu kỳ bệnh và cải thiện các triệu chứng và dấu hiệu của bệnh trong vòng vài tuần. Một số loại thuốc trong số này được chấp thuận để điều trị bệnh vẩy nến từ trung bình đến nặng ở những người không đáp ứng với các liệu pháp đầu tay. Các lựa chọn điều trị như etanercept (enbrel), infliximab (remicade), adalimumab (humira), ustekinumab (stelara), secukinumab (cosentyx) và ixekizumab (taltz).

Lưu ý, cần sử dụng một cách thận trọng vì có nguy cơ ức chế hệ thống miễn dịch theo cách làm tăng nguy cơ nhiễm trùng nghiêm trọng. Đặc biệt, những người thực hiện các phương pháp điều trị này phải được tầm soát bệnh lao.

- Apremilast (Otezla): Dùng điều trị bệnh vẩy nến và viêm khớp vẩy nến ở người lớn. Apremilast hoạt động trong hệ thống miễn dịch và làm giảm phản ứng của cơ thể đối với chứng viêm.

Một số tác dụng phụ có thể gặp như đau đầu, buồn nôn, tiêu chảy, nôn mửa, các triệu chứng cảm lạnh (sổ mũi), đau bụng, trầm cảm, giảm cân, bệnh thận,…

- Các loại thuốc khác: Thioguanine (tabloid) và hydroxyurea (droxia, hydrea) là những loại thuốc có thể được sử dụng khi không hiệu quả với các loại thuốc khác. Apremilast (otezla) được dùng bằng đường uống hai lần một ngày, đặc biệt hiệu quả trong việc giảm ngứa.

Liệu pháp ánh sáng

Liệu pháp ánh sáng là phương pháp tiếp xúc có kiểm soát với ánh sáng cực tím tự nhiên hoặc nhân tạo như ánh sáng mặt trời, UVB băng thông rộng, UVB dải hẹp, Psoralen cộng với tia cực tím, Laser Excimer. Đây là phương pháp điều trị đầu tiên đối với bệnh vẩy nến từ trung bình đến nặng, đơn độc hoặc kết hợp với thuốc.

Liệu pháp bổ sung

Để điều trị vẩy nến, ngoài các liệu pháp trên, có thể dùng các liệu pháp bổ sung. Bao gồm:

- Kem dưỡng ẩm và chất làm mềm: Có thể là liệu pháp bổ trợ có lợi để giảm ngứa và thường không tốn kém; có tác dụng dưỡng ẩm, bôi trơn và làm dịu da khô, bong tróc.

- Kem chiết xuất lô hội: Được chiết xuất từ lá cây lô hội, kem chiết xuất lô hội có thể làm giảm mẩn đỏ, bong vảy, ngứa và viêm; có thể sử dụng kem nhiều lần mỗi ngày trong một tháng hoặc hơn cho đến khi da cải thiện.

- Dầu cá: Có thể bổ sung dầu cá trong quá trình điều trị.

- Nho Oregon (việt quất): Sản phẩm này được bôi ngoài da và có thể làm giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh vẩy nến.

- Tinh dầu: Tinh dầu được sử dụng để trị liệu bằng hương thơm giúp giảm căng thẳng và lo lắng, góp phần hỗ trợ hệ miễn dịch ổn định. Ngoài ra các tác nhân như tinh dầu bạc hà 1% có thể làm giảm ngứa ở một số bệnh nhân bằng cách kích hoạt các sợi thần kinh truyền cảm giác mát, do đó làm giảm cảm giác ngứa.

- Pramoxine: Là một loại thuốc gây tê tại chỗ giúp giảm ngứa, đặc biệt là khi thoa lên các vùng da mặt, bằng cách ngăn chặn sự truyền các xung thần kinh.

- Capsaicin: Có nguồn gốc từ ớt cay và được chứng minh là làm giảm ngứa ở bệnh vẩy nến.

Thường sẽ bắt đầu với các phương pháp truyền thống như kem bôi ngoài da và liệu pháp ánh sáng tia cực tím (quang trị liệu) ở những người có tổn thương da điển hình (mảng). Những người bị bệnh vảy nến mụn mủ hoặc hồng cầu hoặc viêm khớp kèm theo thường cần điều trị toàn thân ngay từ khi bắt đầu điều trị. Mục đích là để tìm ra cách hiệu quả nhất để làm chậm sự thay đổi tế bào với ít tác dụng phụ nhất có thể.

Lưu ý khi dùng thuốc

- Những người bị dị ứng corticosteroid hoặc nhiễm trùng da không nên sử dụng corticosteroid. Sử dụng lâu dài hoặc lạm dụng corticosteroid mạnh có thể làm mỏng da. Corticosteroid tại chỗ có thể không còn hiệu quả khi dùng lâu dài. Ngừng đột ngột steroid có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng.

- Axit salicylic dùng tại chỗ làm bất hoạt calcipotriene. Không sử dụng kem hoặc thuốc mỡ có chứa các loại thuốc này cùng một lúc.

- Không sử dụng sản phẩm chứa nhựa than đá khi bị dị ứng với nhựa than đá, viêm nặng, mụn mủ, chảy máu, rỉ dịch,…

- Với các thuốc điều hòa miễn dịch không được dùng lâu dài vì có thể làm tăng nguy cơ ung thư da và ung thư hạch.

- Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú không nên dùng retinoids.

Bệnh vẩy nến có thể dự phòng được không?


Không có cách nào để ngăn ngừa bệnh vẩy nến, nhưng có thể thực hiện các bước để cải thiện các triệu chứng hoặc giúp giảm số lần bùng phát bệnh vẩy nến.

Hãy thử các biện pháp tự chăm sóc để kiểm soát bệnh vẩy nến tốt hơn và cảm thấy tốt nhất :

- Tắm hàng ngày: Giúp loại bỏ vảy và làm dịu vùng da bị viêm. Thêm dầu tắm, bột yến mạch dạng keo và muối Epsom vào nước và ngâm mình trong ít nhất 15 phút. Sử dụng nước ấm và xà phòng nhẹ có thêm dầu và chất béo.

- Sử dụng kem dưỡng ẩm: Sau khi tắm, lau khô nhẹ nhàng và thoa kem dưỡng ẩm dạng mỡ nặng trong khi da vẫn còn ẩm. Đối với da rất khô, dầu có thể có tác dụng lưu giữ lâu hơn các loại kem hoặc sữa dưỡng. Nếu dưỡng ẩm có vẻ cải thiện làn da của bạn, hãy thoa một đến ba lần mỗi ngày.

- Che các khu vực bị ảnh hưởng qua đêm: Trước khi đi ngủ, thoa kem dưỡng ẩm dạng thuốc mỡ lên vùng da bị ảnh hưởng và che lại. Khi thức dậy, bạn lấy ra và rửa sạch.

- Cho da tiếp xúc với một lượng nhỏ ánh nắng mặt trời.

- Tránh các tác nhân gây bệnh vẩy nến.

- Tránh uống rượu.

- Cố gắng duy trì một lối sống lành mạnh.

Phòng khám ứng dụng những phương pháp Y học cổ truyền như châm cứu, bấm huyệt…. kết hợp với các bài thuốc Đông y 100% thiên nhiên để hồi phục sức khỏe cho bệnh nhân - SĐT: 0931 225 777 - Website: dongy.org


 
 
 

Bình luận


Bài đăng: Blog2_Post

0931 225 777

  • Facebook
  • Twitter
  • LinkedIn

©2022 bởi Phòng khám y học cổ truyền Sài Gòn. Tự hào được xây dựng từ Wix.com

bottom of page