CÁCH CHỮA HỘI CHỨNG ỐNG CỔ TAY
- Sài Gòn Đông y
- 20 thg 7, 2022
- 4 phút đọc
Hội chứng ống cổ tay là gì?
Ống cổ tay là một đường hầm nhỏ tạo bởi xương và dây chằng giúp bảo vệ thần kinh giữa. Hội chứng ống cổ tay là tình trạng đau, tê bì vùng bàn tay và cánh tay do thần kinh giữa bị chèn ép khi đi qua ống cổ tay. Có thể gặp hội chứng ống cổ tay ở một hoặc cả hai bên. Nếu phát hiện và điều trị sớm các triệu chứng cổ tay sẽ dần cải thiện và sớm phục hồi chức năng của bàn tay.
Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ của hội chứng ống cổ tay
Các triệu chứng của hội chứng ống cổ tay do sự chèn ép vào dây thần kinh giữa tại vị trí ống cổ tay. Bất kỳ nguyên nhân là chèn ép hay kích thích các thành phần trong ống cổ tay đều có thể dẫn đến hội chứng.
Tổn thương cổ tay như: chấn thương vùng cổ tay, viêm khớp, trật khớp, viêm dây chằng, viêm thần kinh…làm thay đổi cấu trúc không gian của ống cổ tay và gây áp lực lên dây thần kinh giữa
Nữ giới có nguy cơ gặp hội chứng ống cổ tay cao hơn nam giới do cấu trúc giải phẫu ống cổ tay của nữ thường nhỏ hơn nam giới. Phụ nữ giai đoạn mang thai cũng có thể gặp hội chứng ống cổ tay. Hội chứng ống cổ tay trong thai kỳ thường cải thiện rõ sau khi sinh
Tổn thương thần kinh gặp trong một số bệnh lý mạn tính như đái tháo đường. Đái tháo đường làm tăng nguy cơ tổn thương thần kinh trong đó có thần kinh giữa
Một số nghiên cứu chỉ ra sử dụng thuốc điều trị ung thư vú anastrozole (Arimidex) và hội chứng ống cổ tay có mối liên hệ với nhau
Béo phì. Béo phì là một yếu tố nguy cơ của hội chứng ống cổ tay
Hội chứng ống cổ tay cũng có thể gặp ở những người mãn kinh hoặc có bệnh lý về: rối loạn tuyến giáp, suy thận, phù bạch huyết….
Đặc biệt hội chứng ống cổ tay gặp nhiều ở những người phải làm việc lặp đi lặp lại với một chuyển động ở cổ tay trong thời gian dài như sử dụng máy tính, thợ cắt tóc, thu ngân, nhạc công….
Chẩn đoán hội chứng ống cổ tay
Chẩn đoán hội chứng ống cổ tay chủ yếu dựa vào lâm sàng, với 2 triệu chứng cơ năng và thực thể. Nhưng để chẩn đoán chính xác, và biết được bệnh đang ở giai đoạn nào, khả năng phục hồi sau thời gian điều trị, và tiên lượng trước được tổn thương có thể xảy ra ở chi khác khi chưa có biểu hiện lâm sàng thì phương pháp điện thần kinh và siêu âm đầu dò phẳng tần số cao cho kết quả khá tốt.
Chẩn đoán:
- Tê bì hoặc dị cảm đau ở bàn tay và các ngón thuộc chi phối của dây giữa (ngón I, II, III, và 1/2 của ngón IV) và gan bàn tay tương ứng với các ngón đó. Đau tăng về đêm hoặc khi gấp duỗi cổ tay nhiều lần.
- Teo cơ ô mô cái.
- Dấu hiệu Tinel dương tính: Gõ trên ống cổ tay ở tư thế duỗi cổ tay tối đa gây cảm giác đau hay tê giật lên các ngón tay
- Dấu hiệu Phalen dương tính: Khi gấp cổ tay tối đa (đến 90º) trong thời gian ít nhất là 1 phút gây cảm giác tê tới các đầu ngón tay.
Tiêu chuẩn cận lâm sàng:
- Thời gian tiềm dây giữa cảm giác > 3,2 ms và vận động > 4,2 ms.
- Tốc độ đo dẫn truyền cảm giác, vận động dây giữa < 50m/s ở cổ tay.
- Siêu âm đầu dò phẳng tần số 12 HZ: CSA – I (Thiết diện cắt ngang đầu vào) lớn hơn 9,5mm2 và CSA – O (Thiết diện cắt ngang đầu ra) lớn hơn 9,2mm2.
Điều trị hội chứng ống cổ tay
Bệnh nhân cần tránh các cử động lặp lại nhiều lần của cổ tay. Dùng nẹp cổ tay cho những bệnh nhân có nghề nghiệp phải cử động cổ tay nhiều.
Giảm áp lực trong ống cổ tay bằng cách cắt dây chằng ngang cổ tay. Ðiều chỉnh các khối can xương hay xương trật để ống cổ tay không bị hẹp và không gây đè ép vào dây thần kinh giữa.
Điều trị bảo tồn bằng các thuốc kháng viêm NSAIDs hay tiêm corticoide tại chỗ làm giảm hiện tượng viêm của các gân gấp trong ống cổ tay và các loại thuốc tăng dẫn truyền thần kinh như vitamin B, Nivalin, Nucleo CMP.
Phòng khám ứng dụng những phương pháp Y học cổ truyền như châm cứu, bấm huyệt…. kết hợp với các bài thuốc Đông y 100% thiên nhiên để hồi phục sức khỏe cho bệnh nhân - SĐT: 0931 225 777 - Website: dongy.org




Bình luận